Có thể coi Hà Giang – một tỉnh miền núi phía Bắc – là thủ phủ của trà cổ thụ Việt Nam từ lịch sử phát triển, buôn bán xa xưa cho tới hiện tại, khi giá trị cây trà cổ thụ ngày càng được công nhận rộng rãi hơn ở Việt Nam cũng như thế giới. Bởi ba yếu tố chính:
Độ bao phủ trà cổ thụ ở Hà Giang lớn nhất cả nước trải dài khắp các vùng cao từ nhiều xã, làng ở huyện Vị Xuyên lên trên cao khu vực dãy Tây Côn Lĩnh hùng vĩ (huyện Hoàng Su Phì) xuống thấp khu vực TP Hà Giang oằn mình ngược lên qua Yên Minh là khu vực cao nguyên đá Đồng Văn (huyện Đồng Văn). Cây chè không mọc đơn lẻ mà tập trung san sát liền nhau khắp các làng trải dài nối tiếp. Nói vui giống như người Hà Nội, Sài Gòn ra đường gặp xe máy.
Một phần do độ phân bố rộng lớn nhưng địa chất, địa hình lại có nhiều khác biệt như độ cao dao động từ 1000m – 2500m so với mực nước biển, đất đá thay đổi từ đất mềm, đất cứng, đất đá chín (đen, nặng). Thế nên trà cổ thụ Hà Giang có sự phong phú đa dạng ở hương và vị, mỗi vùng nguyên liệu đem lại một vẻ sắc màu riêng ấn tượng.
Có một ưu thế lớn về vùng nguyên liệu, ngày càng nhiều người, đơn vị sản xuất trà ở Hà Giang đang trên con đường sản xuất những sản phẩm trà chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh với các anh hào trên thế giới, nhiều chủng loại khác nhau như: trà trắng, xanh, đen, ủ men lâu năm ( tiêu biểu là Phổ Nhĩ)…
Thực tế ở Hà Giang, dòng trà đặc sản và chất lượng cao chiếm tỉ trọng khá khiêm tốn, xuất khẩu chính ngạch vẫn là trà đen, trà xanh. Một số ít xã có truyền thống làm trà xanh rất ngon. Ngoài ra đi theo đường tiểu ngạch qua Trung Quốc là “chè vàng” gần như là duy nhất, gần đây thêm “ chè phơi”. Tại sao lại như vậy?
Trước hết hãy tìm hiểu đây là trà gì? “Chè vàng” không phải là trà vàng như cách người Trung Quốc phân loại. Đơn giản là 2 loại trà (chè) chế biến thô được gọi tên dựa trên phương thức chế biến, màu sắc của lá khô.
“Chè vàng”: nguyên liệu 1 búp 1-2-3-4-5-6 lá, tùy phân khúc giá mà nguyên liệu non hay già, từ vài chục tới vài trăm ngàn/kg thành phẩm.
Lá chè tươi –> Xào sơ –> Vò máy –> Phơi khô
Loại phổ thông đa phần các hộ dân, cơ sở nhỏ chế biến, yêu cầu máy móc thô sơ, đơn giản, khi phơi có nắng phơi nắng, không có nắng thì rải ra nền nhà nhiều ngày sẽ khô. Trên nền đất, nào chó mèo người đi lên, lăn lê, bò toài trên lá chè. Ôi thôi đủ các thể loại… đều được. Khi khô có thể lẫn vào một ít hôi, mốc, chua nhưng sản lượng mua không giới hạn, từ vài chục kg tới vài tấn, 10 – 50 tấn không bao giờ đủ. Sẽ có một vài đầu nậu thu gom “chè vàng” tại làng, rồi tập kết ở trung tâm huyện, từ đó chuyển lên gần vùng biên sang biên giới Trung Quốc. Trà này mang trạm cuối sản xuất sẽ được ủ đống qua một thời gian, phân loại đóng bánh làm trà Phổ Nhĩ chín, vì thế các mùi tạp ban đầu cũng được chuyển hóa khiến nhiều người uống chẳng còn nhân ra mùi hương nguyên thủy nữa. Tôi thực sự e ngại cho ai uống phải Phổ Nhĩ chín từ loại “chè vàng” phổ thông này.
“Chè phơi”: nếu như “chè vàng” vốn được thu mua từ đôi ba chục năm trước, có vùng có lẽ là vài trăm năm, góp phần trong “con đường trà cổ” của Trung Hoa dẫn trà qua bên kia các châu lục, thì “chè phơi” mới chỉ được đặt và mua từ 3-4 năm nay, cũng là xuất sang Trung Quốc chung một lộ trình.
Lá chè tươi –> Xào sơ –> Phơi nắng (Không có Vò máy)
Nguyên liệu cũng giống như “chè vàng” từ lá già tới lá non nhỏ, song yêu cầu bắt buộc phải phơi nắng, có lớp bạt rải rồi mới phơi lá chè ở trên đảm bảo độ vệ sinh tránh tối đa tạp chất. Cùng phẩm cấp nhưng cao hơn “chè vàng” vài chục nghìn/kg. Khi thu mua, thương lái sẽ mở từng bao kiểm tra, pha 1 ấm để kiểm hàng, nếu pha ra nước vàng sáng, mùi nắng mới mua chứ không lấy ồ ạt qua loa. Nói vậy để biết người bán có thể lẫn chứ người mua không bao giờ lầm. Họ biết chính xác mình đang mua cái gì. Hiện tại tôi vẫn chưa biết rõ ràng họ mua “chè phơi” về làm thành sản phẩm trà gì, nhưng dựa trên cách chế biến có thể suy đoán họ sẽ làm 1 loại trà ủ men hay Phổ Nhĩ sống ngon nhóm ngọt nhẹ, ít chát hơn ( Phổ Nhĩ chỉ là 1 loại trong dòng trà ủ men lâu năm), thậm chí nếu kĩ thuật cao có thể ủ trà trắng lâu năm có hương vị mới mẻ hơn so với các dòng truyền thống thường thấy. Như một người Dao tiến bộ chịu khó đi thăm thú kể được qua Trung Quốc chơi, uống trà với mấy ông lái bên kia chỉ cho cái bánh hình chữ nhật cứng cứng là từ “chè phơi” Việt Nam đấy. Có điều anh đọc không hiểu, toàn chữ Tàu.
Điểm sơ qua như vậy để thấy mặt bằng chung 2 loại trà này ở Hà Giang như thế nào. Những vùng có sản lượng lớn hầu như bà con mỗi hộ chỉ cần đầu tư một bom quay, một máy vò nhỏ là có thể tự sản xuất được “chè vàng và chè phơi”. Trừ những vùng heo hút, sản lượng thấp, chi phí thu mua tăng cao hay khu có doanh nghiệp chế biến lâu năm tạo thành truyền thống sản xuất thì việc thu mua này giảm xuống. Ví như xã Thượng Sơn có 4 thôn Trung Sơn, Khuổi Luông, Bó Đướt, Đán Khao làm trà thì cả 4 thôn đều chế biến “chè vàng và chè phơi” hết, rồi xã Phương Độ (TP Hà Giang) có 3 thôn Nà Thác, Khuổi My, Lùng Vai cũng vậy. Dọc đường ngược lên núi cao là những tấm bạt lớn trải dài hai bên, rồi trên tảng đá lớn, trên nóc nhà, dập dìu phơi trà cho nhanh khô. Đôi lúc họ cũng làm ít trà xanh để bán trong làng dùng uống hay có ai đặt riêng vài chục kg mới làm, nói chung rất ít. Hãy làm một phép tính để thấy rõ tại sao người dân làm rất nhiều 2 loại trà này.
Một bom (lồng quay) mini công suất 5kg/mẻ sao có thể cho khối lượng lá tươi vào 1 mẻ lần lượt như sau:
Trà xanh: 2-3kg.
“ Chè phơi”: 7-8kg
“ Chè vàng”: 20-23kg
Như vậy tương đương 1 mẻ “chè vàng” = 3 mẻ “chè phơi” = 6 mẻ trà xanh. Ngược lại thời gian hoàn thiện 4 mẻ vàng = 2,2 mẻ phơi = 1 mẻ xanh. Bởi trà xanh phải sao suốt canh lửa liên tục cả 1 tiếng/mẻ yêu cầu tập trung cao hơn, trong khi 2 loại kia 15 phút là xong, sau đó đem phơi không mất quá nhiều công sức. Vào thời điểm năng suất cao, một hộ 2 người chăm chỉ làm liên tục thay phiên 1 ngày đêm có thể làm được 1 tấn lá tươi “chè vàng”, ½ tấn lá tươi “chè phơi”, 180-200kg lá tươi trà xanh. Riêng “chè vàng” 1 tấn tươi lời được khoảng 3 triệu, cả vụ xuân thu về 30- 40 triệu. Thực sự đây là nguồn thu khá lớn đối với bà con vùng cao.
Rõ ràng như cầu 2 loại trà này cho thị trường Trung Quốc vô cùng lớn, tạo nên sức cạnh tranh tăng cao giá thành lá tươi. Bà con sở hữu cây chè tự thu hái bán được giá thành cao hơn, tự hưởng thành quả cây nông nghiệp trên đất của mình. Nhiều người tham gia sản xuất mang lại thu nhập, cải thiện đời sống bớt khó khăn. Khoảng mấy chục năm trước, họ chỉ bán lá chè tươi cho các nhà máy chè nhà nước với giá thấp hoặc làm trà xanh bán trong mỗi phiên họp chợ. Chúng ta không nên cực đoan chỉ trích thương lái Trung Quốc thu mua vô tội vạ, lũng đoạn giá thị trường. Vì nếu không được khai thác thì cây chè sẽ trở nên vô giá trị bị phá bỏ làm củi, thì thiệt hại còn lớn hơn rất nhiều.
Bên cạnh lợi ích đem lại cho người dân cũng như vùng nguyên liệu, vẫn luôn tồn tại những mặt trái. Trước tiên nếu việc khai thác quá nhiều, tận thu thì chất lượng cây chè bị giảm xuống thậm chí yếu đi, chết cây. Giá nguyên liệu tươi cao thách thức những doanh nghiệp trẻ định hướng phân khúc trung, cao cấp đang tạo dựng thương hiệu trà Việt Nam trên bản đồ thế giới bởi sức ép, sự cạnh tranh khốc liệt trên nhiều phương diện. Về ngắn hạn thì bà con hưởng lợi nhưng dừng lại ở ngưỡng trang trải cuộc sống, song về dài hạn xảy ra cán cân bất hợp lý giữa vùng nguyên liệu – vùng tiêu thụ, đất nước mất đi nguồn thu thuế không hề nhỏ trong khi ở Trung Quốc họ thu về lợi nhuận khổng lồ, tôi muốn nhấn mạnh là khổng lồ so với những gì họ bỏ ra. Đối với thân phận chính mình, chúng ta mãi chỉ là kiếp đẻ thuê.
Đổi lại lợi ích tương xứng cho sản phẩm của mình, tự xây dựng sức mạnh, sức cạnh tranh của trà cổ thụ Việt Nam, chúng ta hôm nay và ngày mai phải làm gì để xoay chuyển. Điều này không hề dễ trả lời.
Chú thích: “chè vàng” và “ chè phơi” sử dụng nguyên bản từ địa phương .
Từ Quốc Lộ rẽ vào con đường 3m như dẫn tới một thế giới hoàn toàn khác. Cung đường uốn lượn, quanh co từ những ngọn đồi thoai thoải hướng theo dốc dần lên những ngọn núi cao nữa, cao mãi đến tận chân trời. Mây mờ sương phủ khắp muôn nơi, bay lên xà xuống òa vào khuôn mặt và ngập tràn cơ thể. Cảm giác thật hài hòa và dễ chịu tựa như hai bàn tay nhấc bổng ta lên khỏi mặt đất thoát vào không trung cao rộng. Mùa xuân về thật rồi, đào rừng hoa đã nở rộ phớt hồng, hoa mai hoa mận trắng sáng cả góc rừng, những ngôi nhà mái ngói mờ mờ khói bếp lan tỏa, những em bé chơi đùa nụ cười rạng rỡ. Suốt chặng đường tôi dừng lại nhiều lần ngắm nhìn cảnh sắc trong trẻo nơi đây, hỏi bất chợt vài câu mấy em bé dọc ngang qua đường, ăn một quả dứa đặc sản bán trong lán nhỏ, để giữ lại khoảnh khắc tươi đẹp, quý giá của những năm tháng tuổi trẻ này.
Cứ thế khoảng cách 80km đường rừng trở nên ngắn lại rất nhiều, cảm giác chả mấy chốc mà tới nhanh chóng. Ở vùng sâu vùng xa, người ta không xây nhà sát đường lớn, mà thường vắt vẻo bên sườn núi, đi lắt léo qua nhiều đường mòn mới đến. Nhà chú mới đào lối nhỏ từ đường thẳng vào sân, không còn phải leo qua mấy mỏm đất đá bao lần ngã dập mông đau ê ẩm ngày nào nữa.
Một lúc nữa, nhà chú chuẩn bị cơm trưa đãi khách là tôi. Thoăn thoắt bắt con gà trống to, kho gừng thơm phức, lòng gà xào cải thảo, lợn bản treo bếp rang cháy cạnh. Ôi! Nói thật nãy giờ ngồi trong bếp, mắt tôi đã liếc mấy dải thịt treo này rồi, trông thịt săn vừa phải, đỏ ửng thơm mùi khói đượm, chưa nấu mà nước miếng nuốt ừng ực mấy lần. Nhìn mâm cơm từng đĩa ăn bê ra mà lòng tôi xốn xang lạ thường. Bữa cơm miền núi “ nhà làm”, “ nhà trồng” mọi thứ thật ngon lành, đậm đà vô cùng. Thêm mấy chén rượu ngô nữa là chúng tôi ai cũng say sưa đất trời.
Đi bộ tầm nửa tiếng qua đến sườn núi bên kia, chúng tôi ngồi nghỉ chân nhìn bao quát xuống, là những làn sương giăng lên cây chè, cây thông, cây rừng nhấp nhô thấp cao. Cây chè ở đây là vùng nguyên liệu ít người khai thác làm trà nên thân cây cao lớn có khi tới 20m thẳng vút lên trời, không thấp ngang – tán rộng như một số vùng có truyền thống làm trà trước đó ở tỉnh khác. Đây là sự khác biệt cần được giữ gìn và khai thác hợp lý về lâu dài, có như vậy mới giữ được chất lượng và giá trị kinh tế cũng như văn hóa một cách bền vững.
NƯỚC: hãy tưởng tượng nước là thực thế lớn nhất xoay chuyển hòa vào một lượng trà nhất định hút ra tinh túy, hương vị, phẩm chất của loại trà đó. Ngay bản thân nước không đã có thể nói lên được nước uống ngon hay dở ở độ sạch, độ ngọt ( tự nhiên hay bị ngọt hóa trong quá trình lọc), trong, không mùi tạp, khi uống vào dễ chịu, sảng khoái. Bạn đã từng thử nếm các mạch nước khác nhau từ trên núi đá chảy xuống hay uống trực tiếp nước giếng trong làng quê xa vùng công nghiệp? Dù có mệt mỏi, rã rời thì vài hớp nước trên núi chảy xuống hay trong giếng sạch cũng tiêu tan mọi cảm giác khó chịu ban đầu. Trước kia nước sông trong vắt, hiền hòa cũng có thể dùng làm nước uống trà, có điều với mật độ dân cư dày đặc như hiện nay, người ta từ quê ra thành thị đều tranh thủ xả thẳng nước thải ra sông, vậy nên rất khó tìm được con sông sạch lấy nước uống trà như người xưa vẫn nói. Lý tưởng là lựa chọn nguồn nước tươi mát trong tự nhiên, nếu ở thành phố thì chúng ta nên dùng các loại nước lọc (sạch) có độ PH trung tính, không có tính kiềm cao sẽ không biến đổi căn bản vị và hương của trà.
Bên lề review chút: dù chưa thử tất cả các loại nước lọc, nhưng tôi rất ưng nước “tinh khiết” Vĩnh Hảo ( không phải nước khoáng) vừa cây nhà lá vườn, vừa pha trà tuyệt vời. Song đôi khi máy móc cũng biết mệt, có đôi lần dùng vẫn một loại nước thương hiệu đáng tin cậy, giá cả như mọi ngày, ấm chén vẫn tinh tươm vậy mà pha ra mấy loại trà xanh cổ thụ, trà nào cũng như trà nào, uống tềnh tệch không phân biệt nổi quê quán xuất xứ của mỗi anh như mọi lần khác.
PHA: khi đã có nước sạch, trà ngon bạn sẽ dùng kĩ năng của mình biến hóa tạo nên một ly trà “như ý”. Thay đổi một chút cách pha thì ra trà sẽ vị đậm nhạt, hương nồng nàn hay dịu nhẹ khác nhau. Đây là một trò chơi thú vị giữa 4 yếu tố: lượng trà – lượng nước – thời gian – nhiệt độ. Khi uống chóng vánh, nhanh gọn thì ít trà chút, nhiều nước để hãm lâu một chút thì trà sẽ thanh nhẹ, hương không quá sâu, pha một ấm 1-2-3 lần. Khi uống cô đọng, lấy cốt trà làm trọng thì để nhiều trà, ít nước, đổ trà ra nhanh sau đó pha đi pha lại nhiều lần. Nhiệt độ xuyên suốt phù hợp với từng loại trà khác nhau, nếu không muốn luộc trà thì đừng đổ thẳng nước sôi sùng sục vào thiêu rọi lá trà xanh mơn mởn nhé. Càng pha nhiều, càng chú ý thì tay nghề pha trà sẽ càng lên cao thôi.
ẤM: nước này, trà này, muốn pha thì phải có dụng cụ để pha trà. Chọn ra ấm có dung tích phù hợp với lượng người uống đầy đủ công năng sẽ cho ra trà ngon hơn. Là một người đã đi qua nhiều vùng trà, tôi không trực tiếp sao tất cả các loại trà cho mình nhưng tôi cũng gắn bó sản xuất cùng người nông dân, thấy được quá trình sinh trưởng lá non tới ly trà cuối cùng thấp thoáng khói bay sẽ thấy rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sau cùng. Thế nên tôi không cảm thấy bị lệ thuộc vào một yếu tố đơn lẻ nào đó mà quên đi tổng quan bức tranh hài hòa nhiều chi tiết. Tôi cũng chọn cho mình vài chiếc ấm đất nhỏ xinh thuần túy, ấm thủy tinh cho nhu cầu sử dụng thực tế của mình. Tôi đồng ý chiếc ấm đất tốt sẽ gia tăng hương vị của trà, nhưng giá trị gia tăng này không lớn lao vĩ đại như từ địa ngục bước tới thiên đàng. Không chỉ trà, rượu vang hay whisky cũng vậy, tâm lý số đông cảm thấy rượu ngon hơn khi được biết giá trị kinh tế của cái ly đặc biệt thiết kế riêng biệt, chất liệu siêu biệt. Tin tôi đi, một người đàn ông sẽ trở nên lịch lãm, sang trọng, có giá hơn hẳn nếu người ta cho bạn biết anh ấy là Hoàng tử Anh, thực tế là như vậy đó. Song nếu bạn nhìn chiếc ấm như một tác phẩm nghệ thuật, thú chơi riêng biệt thì vấn đề lại chuyển sang một hướng khác, nó không dừng lại ở việc tìm chiếc ấm để pha trà ngon nữa, cứ thỏa sức đam mê tìm hiểu, đầu tư trong khả năng cho phép vào chiếc ấm đẹp, giàu giá trị nghệ thuật, độc, lạ.
Hoa sen không phải ngẫu nhiên trở thành loài hoa biểu tượng thấm đẫm triết lý Phật giáo. Từ sự vươn mình kiên nhẫn trong hoàn cảnh bùn lày khó khăn, nở bung những cánh hoa sắc hồng tươi thắm, thanh khiết lan tỏa vẻ đẹp tinh khôi, thanh tịnh khiến mọi loài trở nên hiền hòa tĩnh lặng. Lẽ vậy, nhiều người yêu sen, mến sen, ngắm sen mãi hoài không chán, thế nên người xưa tìm cách lưu lại vẻ đẹp thuần khiết của sen sâu vào trong cánh trà hòa quyện vô cùng tinh tế. Gửi hương hoa tự nhiên vào trà đã khó, mất từ 4-5 ngày qua 2 lần sấy ướp mới xong, nhưng ướp sen thì kỳ công gấp bội phần, tỉ mỉ nhẫn nại suốt 6-8 lần tuần hoàn nào xếp bông, tách gạo, gói lá giữ hương, rải ướp, tách gạo – trà, sấy khô trải dài gần một tháng mới hoàn thành trọn vẹn mẻ trà. Nên uống trà sen, bạn có thể có cảm tình hay không không quan trọng. Để cảm được, bạn cần thấy được tự tính của sen, vẻ đẹp của sen, sự bất biến của sen.
Mùng 1 Tết Sài Gòn sao im lặng lạ vậy! Đâu còn còi xe hối nhau giữa phố phường, chỉ còn lại lá xào xạc rơi rơi trên thềm. Tự nhiên tôi muốn uống trà Cúc, hương vị cúc không chứa nhiều lớp lang phức tạp mà rất thanh nhẹ khiến tôi thư thái, dịu dàng. Rồi ngay sau trà Cúc, tôi biết mình muốn uống trà sen. Và sau đó là lớp hương thanh – sâu chạm tận sau đỉnh đầu man mát lan tỏa. Hài hòa và ngọt ngào rất đỗi tĩnh lặng. Nó khiến tôi thấy tự do, yên tĩnh, không còn ràng buộc bởi suy nghĩ thoáng qua bất chợt nào đó. Suốt Tết năm nay, tôi chỉ quanh đi quẩn lại 2 món trà này mà thôi.
Ở Sài Gòn, muốn tận hưởng cảm giác từ lúc bỏ trà vào hoa tới khi nhấp chén trà cuối trong khung trời Tây Hồ quả không đơn giản. Chẳng thể lãng mạn như trong thi văn Nguyễn Tuân từng viết thì đành lách cách uống sen bông tươi ngắm hồ trong tâm tưởng vậy. Thế là tháng 7, tôi chọn nền trà xanh cổ thụ vụ xuân Phìn Hồ, Hà Giang, thử hai mẻ trà một đầu tháng và một cuối tháng khi sen vẫn đương thời chín muồi dày hương. Mẻ đầu ướp đệm trà qua lớp cánh sen non bên trong làm tăng độ ẩm đồng thời trà cũng ngấm hương sâu hơn, sau đó mới dùng trà này vào bông sen tươi cuộn lá sen. Mẻ sau ướp trực tiếp trà khô cộng thêm chút gạo khô vào trong bông sen tươi rồi cuộn lại. Cứ thế 2 mẻ trà bay thẳng vào Sài Gòn cất ngăn mát tà tà uống dần trong vòng 2 tuần. Tùy vào độ ẩm, dày hương, mới ướp hay trữ mát lâu hơn mà hương vị biến đổi từ ngọt thanh của quả na ( mãng cầu xiêm) tới thơm mát chua thanh của vỏ chanh vàng. Cá nhân tôi thích mẻ đầu hơn, uống sau khi ướp 3-4 ngày trà hút hương đủ lâu, vì sự phối ngẫu phù hợp ăn ý giữa độ ẩm vừa phải (đủ ko gây mốc, ướt) làm trung hòa giảm độ chát tự nhiên của trà xanh thậm chí vị trở nên ngọt hơn, đồng thời hương sen rất thú vị ở chỗ nó cực khó ăn hương song ngấm là ngấm rất lâu. Dù là ướp tươi, mà uống rất bền, qua 5-6 nước trà mới dịu lại.
Mùa hè thì lúc nào chả mưa nhiều hơn, cái đó ai chả rõ, thế nhưng mưa nhiều tới mức sụt lở nghiêm trọng, mưa dồn dập một khu vực như vậy quả là bất thường. Mà cái thời tiết bất thường này xảy ra gần đây có tính đều đặn thường xuyên hơn do sự biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Cây chè vốn là loại cây sinh trưởng trong môi trường sinh thái đa loài (biodiversity) nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ từ hệ sinh vật xung quanh. Nếu hệ sinh thái các sinh vật nói chung, rừng cây nói riêng phát triển không đồng đều, nhẹ thì chất lượng sụt giảm, nặng hơn nữa thì mất mùa, có thể cây chè sẽ chết vì không còn khả năng chống đỡ trước sự tàn phá khốc liệt này. Tôi trước hết là người uống trà, rong ruổi trên những cung đường trà khắp nơi, chạm vào lá chè, sao trà để uống. Đã thấy quá trình biến đổi từ lá non trên cành chế biến thành cánh trà khô, đã thấy những mầm trà non vươn lên từ đất mẹ cho tới những cây già cỗi, chết dần chết mòn. Tôi cảm thấy xót xa mỗi khi biết tin năm nay trà bị sao.



Tuổi 20, ở Hà Nội, phố nhỏ ngõ nhỏ, nét xưa cũ trầm mặc lẩn khuất trong chính những ồn ào náo nhiệt cuốn hút tôi một cách lạ lùng. Những buổi dạo chơi phố phường, ngồi hàng giờ nhâm nhi chầm chậm từng cốc trà nóng nơi góc phố nhỏ, rộng mở dưới tán cây cổ thụ, ngắm dòng người qua lại – những buổi một mình, cùng bạn bè thân chia sẻ ấm trà ở những quán trà cũ lặng lẽ yên bình – từng chén trà kết nối tôi xúc chạm với cảnh vật, con người xung quanh một cách ý nhị hơn.