CÚ VA CHẠM LỊCH SỬ TRIỆU TRIỆU NĂM

Cây chè (trà) từ đâu mà tới? Từ vùng đất thánh nào hay một vị thần ngẫu hứng thổi phép hóa nên? Không. Chính xác là tự nhiên tạo nên mọi thứ và tự nhiên có thể sẽ lấy đi mọi thứ. Hôm nay, tôi muốn chia sẻ một sự kiện thú vị trong bài này, tiền đề dẫn đến sự có mặt một kỳ tích những cây chè tuyệt vời trên hành tinh

Nếu bạn biết tới thuyết trôi dạt lục địa.

100 triệu năm trước

100 triệu năm trước, Trái Đất có 2 siêu lục địa phân tách nhau khá rõ ràng. Laurasia ở bán cầu phía Bắc bao gồm Việt Nam hiện nay thuộc mảng Á Âu và mảng Ấn Độ, Úc thuộc siêu lục địa Gondwana ở bán cầu phía Nam.

80 triệu năm trước

Trong 50 triệu năm tiếp theo, mảng Ấn Độ và mảng Úc tách ra khỏi Gondwana, Mảng Ấn theo hướng Bắc nhắm thẳng vào mảng Á Âu lao đến với tốc độ nhanh đáng kinh ngạc, Úc theo hướng Đông Bắc điềm tĩnh hơn.

50 triệu năm trước

45 – 50 triệu năm trước, sau một khoảng chạy nước rút, không hề mệt mỏi, không thắng phanh nào cản nổi, mảng Ấn Độ đâm xầm vào mảng Á Âu sừng sững, to lớn đứng đó hiên ngang đón nhận. Rầm, rầm! Kinh hoàng! Chấn động địa cầu. Phải tua nhanh chúng ta mới thấy thước phim dữ dội ấy.

Lịch sử dãy Himalaya huyền thoại, huy hoàng bắt đầu từ đây trải dài 50 triệu năm. Hai mảng lục địa va chạm mạnh mẽ không khoan nhượng. Khu  vực tiếp giáp giữa 2 mảng này địa chất toàn đá cứng nên không bên nào chịu nhún nhường. Tiếp đó mảng Ấn Độ chưa dừng lại, lấn sâu vào trong đất liền. Rìa Bắc mảng Ấn Độ chui xuống phần cứng mảng Á Âu đẩy lên cao. Vỏ Trái Đất lồi lên, từng thớ đá, tảng đá ùn ùn leo thang dâng lên như hàng triệu quân lính tăng cường viện trợ liên tục, lan rộng khắp mọi nơi. Nhìn chếch phải là cao nguyên Thanh Tạng – mái nhà thế giới, ngoảnh lại sau bên trái là Sikim, Nepal.

Việt Nam chúng ta lúc đó vị trí khác xa bây giờ, dải chữ S quay trục ngang, miền Bắc nằm hướng Tây, miền Nam nằm hướng Đông. Miền Nam theo chuỗi phản ứng liên lục địa sau cú húc mạnh xoay theo chiều kim đồng hồ dần xuống hướng phía Nam. Một phần Phillipin lại gần hướng Đông Nam Á ngày nay hơn.

Hai mảng lục địa vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, ùn ùn đẩy nhau lên cao, lên cao mãi, lên tới nóc nhà  thế giới Everest. Từ đó thả tầm mắt bao quanh chỉ thấy núi non hùng vĩ, sừng sững trải dài mãi mãi không bao giờ thấy đường chân trời, miên man băng tuyết trắng trời lạnh giá. Nếu như cánh tay ta như siêu cánh chim bay thỏa thích từ dải Ấn Độ xuyên qua tới Thanh Tạng chắc sẽ rụng cánh lả đi mất thôi, bay mờ mắt bay sao nổi đây. Himalaya rộng lớn, bí ẩn, vĩ đại thăm thẳm.

Cú va chạm lịch sử kéo dài 50 triệu năm kết hợp yếu tố quan trọng là Nam Úc tách rời hẳn Nam Cực đã tác động to lớn tới cả Trái Đất của chúng ta. Thay đổi dòng chảy đại dương, tăng lượng oxy trong đại dương, thay đổi hướng gió, lượng mưa biến đổi. Mọi thứ không còn như xưa, như 100 triệu năm trước. Suốt quá trình, động vật lẫn thực vật từ hai lục địa giao thoa, òa vào nhau, phối ngẫu phát triển. Có nhiều loài cây, con vật tuyệt chủng vĩnh viễn, cũng có rất nhiều loài tiến hóa thích nghi môi trường mới, cũng có nhiều gương mặt sáng giá mới xuất hiện.

Hiện nay

Thuyết được nhiều nhà khoa học nghiên cứu uy tín ủng hộ rằng cây chè lá lớn Assamica sinensis  xuất hiện trước tiên. Từ chân dãy Himalaya trải dài xuống Đông Nam Á, hình thành địa hình lý tưởng cho cây chè này xuất hiện và sinh trưởng. Độ cao 1000-2500m so với mực nước biển, nhiệt độ thấp, không băng tuyết, không quá cao từ, lý tưởng ngưỡng 13C-28C, đất đá dễ thoát nước, đất tốt giàu mùn chứa nhiều thành phần hữu cơ, khí hậu 4 mùa cân đối không quá khắc nghiệt. Chính trong khu vực này, tại điểm vàng giữa Xishuangbana giáp Bắc Myanmar với bắc Lào được cho là khu vực cây chè xuất hiện đầu tiên trên Trái Đất. Khi đó chưa có khái niệm ranh giới quốc gia, nhuốm màu kinh tế, sắc tộc, chính trị. Sau triệu năm tiến hóa, hạt chè rụng xuống mọc lên cây mới, lặp lại chu kỳ ấy từ từ lan rộng dần.

Điểm vàng hình thành và khu vực lan rộng cây chè

23.000 năm trước, qua nhiều khảo sát, phân tách DNA chứng minh cây chè chính thức phân tách thành 2 giống chủng lớn: cây chè lá to (Camellia sinensis var. assamica) và cây chè lá nhỏ (Camellia sinensis var. sinensis) thông qua quá trình lan rộng, bản địa hóa thích ứng với môi trường khác biệt mới. Loài người trở nên thông minh hơn, những tộc người thiểu số bắt đầu sử dụng cây chè với mục đích khác nhau, họ đem hạt giống theo cuộc sống du canh, du cư qua nhiều thế hệ lan rộng theo nhiều hướng qua phía Nam Trung Quốc, men xuôi dòng chảy Mekong sâu vào Myanmar, Lào, xuống Thái Lan, đồng thời hắt qua Tây Bắc tràn mé Đông Bắc Việt Nam, theo một cách tự nhiên, trước khi lan rộng khắp thế giới trở thành một ngành công nghiệp thế mạnh.

Tương lai

Theo dòng chảy triệu triệu năm, mảng lục địa chưa ngừng nghỉ, vẫn tiếp tục lộ trình liên tục của mình. Mảng Úc điềm tĩnh theo hướng Đông Bắc gom Nhật Bản chạm Hàn sáp nhập vào Trung Quốc và Đông Nam Á, biển Đông thành biển nhỏ không còn là đại dương sau 50 triệu năm nữa. Cây chè sẽ tuyệt chủng, trước đó. Sau 75 triệu năm, toàn bộ bo lại nguyên khối, đất gặp đất, biển Đông biến mất. Việt Nam bé xíu co lại. Khí hậu thay đổi ghê gớm. Sau 225 triệu năm, 1 siêu lục địa khổng lồ hình thành, thời kỳ băng hà khủng khiếp xảy ra khắp nơi. Loài người tuyệt chủng.

Có một thực tế không thể chối cãi là không cần đợi lâu đến thế. Nếu tiếp tục cách sống – sản xuất như hiện tại không có sự điều chỉnh trước những biến đổi khí hậu nghiêm trọng trên hành tinh cộng với sự ô nhiễm rác thải. Con người chính thức bị xóa sổ trong vòng 150 năm tới . Sau đó hành tinh sẽ nhẹ nhàng tái tạo lại một cách tươi đẹp, không cần tới loài người. Tất nhiên các mảng lục địa vẫn mỉm cười chuyển động.

ĐƯỜNG ĐẾN TỚI TRÀ XANH BAMBOO DREAM

Rất tình cờ, không hề chủ đích, tôi tìm ra và đặt loại trà đặc biệt này vào bộ sưu tập Trà Xanh Hatvala.

Năm 2011, chuyến đi đầu tiên của tôi đi Hà Giang hướng tới Thượng Sơn, Vị Xuyên.  10 năm trước, Hà Giang khác bây giờ nhiều, Thượng Sơn là nơi nào đó heo hút, tận cùng trời, không mấy ai ghé thăm. Từ quốc lộ rẽ đường lên cheo vẻo rải đá trong mùa mưa trồi sụt, nhấp nhô. Xe khách không, du lịch tiện ích chưa phát triển, tôi lân la hỏi xin đi nhờ xe máy hai chị giáo viên cấp 2 từ sáng sớm. Dọc đường ngồi sau chị gái, người xóc long sòng sọc ngả nghiêng theo từng ngã rẽ, tội nghiệp chị, thấy chị muốn oằn cái tay luôn.

Năm ấy, tôi 23 tuổi, một trong những lần đầu tiên tranh thủ tuần phép ngắn ngủi từ Hà Nội ngược 1-2 vùng trà rừng núi tìm hiểu ban đầu, phương tiện phụ thuộc, một mình lang thang tự dò dẫm, đôi chút hoang mang không biết bắt đầu từ đâu, đêm nay ngủ chỗ nào, với ai, đều lựa tình hình nương trú an toàn.

Dừng ở trung tâm xã, lang thang rảo bộ hỏi thăm được một hộ gia đình làm trà, tôi nhanh chóng tìm tới, lòng đầy hứng khởi vui mừng. Vợ chồng anh chị làm trà rất cởi mở, thân thiện, trả lời mọi thắc mắc của tôi về cuộc sống, công việc, thu hoạch, quy trình, chủng loại, so sánh … nói chung là mọi thứ tôi có thể nghĩ ra vào lúc ấy. Tôi ở lại nhà anh chị xem trực tiếp công việc chế biến chè xanh, chè vàng, ngủ cùng con gái hai anh chị, cô bé rất đáng yêu, dẫn tôi đi chơi khi nghỉ ngơi, gặp người này người kia. Ở Thượng Sơn hồi ấy không có nhiều người làm trà như bây giờ, phần lớn phơi chè vàng bán rẻ đi Trung Quốc. Hỏi nghe nói đi lên cao hơn tầm 8-10km có ông cụ làm chè xanh ngon lắm, vâng chính xác là đường rừng chứ không phải như thành thị chúng ta đi đâu, mùa mưa có thể mất 3-4 tiếng mới xong. Sâu vào thêm tôi có cảm giác như đi vào rừng già, thoáng chút hốt hoảng trong lòng, gặng hỏi có xe ôm không, không. Ráng đứng bên đường hy vọng có ai rượt qua xin ké, cũng đâu ai tiềm năng. Liều lĩnh lúc này không hẳn là ý hay, tôi quyết định quay về huyện sau khi xin liên hệ, mẫu chè đầy đủ hai anh chị kể trên. Lại sau xe máy giáo viên trên này về nhà, được cái lần về là anh giáo viên tay lái cứng hơn, thảnh thơi ngắm núi non.

Qua nhiều năm, trải qua nhiều chặng đường khác nhau, tận 2018 tôi quyết định trở lại vùng đất này, tìm cho mình những điều dang dở. Cơ sở hạ tầng tốt lên nhiều, đường dải bê tông có thể đánh lái xe trong đêm, có điều mùa mưa vẫn chồi sụt, đi bộ dắt xe máy như thường. Liên tiếp 2018-2019-2020 tôi lên đây với mục tiêu ban đầu là Phổ Nhĩ Sống dẫn dắt qua Trà Trắng Chồi Xuân tuyệt hảo. Xét về điều kiện tự nhiên Thượng Sơn nối lên đỉnh Tây Côn Lĩnh cao nhất Hà Giang, càng lên cao lại có những khu trà lên lỏi kín đáo phủ thấm màn sương giăng phủ quanh năm, số lượng cây lớn, già khá đồng đều, một số cây to lớn rất “cổ thụ”, nội chất mạnh mẽ, bền một cách vững vàng. Tự nhiên ưu đãi quá tốt, cái còn lại là bàn tay con người, ở đây tôi thấy nhiều người có kinh nghiệm về các loại trà, chịu khó, hay hơn là cầu tiến, nhiệt thành. Một buổi chiều tháng 4/2020, đang thăm vùng trà nguyên liệu của anh bạn làm trà, thong thả tôi chợt hỏi anh về trà xanh nơi đây, vậy là hướng mới đi thăm họ ngay trước khi tối trời quá muộn. Ghé 3 nhà, nhưng ở đây tôi chỉ tập trung vào nơi ấn tượng ngay từ những cái ban đầu. Xa xa ngôi nhà gỗ cheo leo một nửa bên trong ngả áp sườn núi, nửa bên ngoài đỡ trên những cột trụ đóng thoải xuống theo thế núi, cách con đường làng men theo lối nhỏ trái tầm 30m. Bước vào là hiên nhà hẹp kéo dài, qua vách ngăn là gian nhà lớn chạy song song. Khi ấy, gần 5h rồi, trời nhá nhem tối, đèn chưa bật, duy nhất ánh sáng hắt qua khung cửa sổ tỏa nhẹ không gian mờ chiều, quây quần quanh bàn là 3-4 người đàn ông vừa nói chuyện nhẹ nhàng vừa uống trà. Bàn trà đơn giản đặt cạnh tường gỗ ngay ô cửa sổ nhìn ra thung lũng rộng lớn, mang phong cách riêng, không phải làm từ gỗ quý đắt tiền, mà thiết kế có ý đồ cho người uống trà tiện sử dụng. Trên cùng là mặt bàn trà, dưới phía tay trái có một vách ngăn dọc vừa vặn phích nước nóng, qua bên phải chia làm 2 tầng kéo dài, kệ trên để khay ấm chén pha trà và hũ trà nắp chặt giữ hương, kệ dưới tôi quên mất để gì rồi, nhưng cơ bản là có lý lắm. Lúc chúng tôi ngồi xuống, chú chủ nhà khoảng 50 tuổi lấy 2 chén mới ra, tráng nước nóng cẩn thận mới rót trà ra. Tôi liếc mắt nhanh, chén trà rất sạch, ko lẫn mùi tạp, quay ra cười, nói nhẹ anh bạn: “uống nhé anh”.

Uống xong một hớp, hứng thú tôi hỏi chú:

Ai làm cái bàn này hả chú?

Nhà chú tự làm thôi, kiếm gỗ về đóng.

Có ai chỉ chú cách đóng bố trí như này không?

Không, để sao cho gọn dễ dùng thôi.

Để cho dễ dàng, một người đồng bào có bao giờ xuống núi đàm đạo trà lại sáng tạo như vậy thì cháu nể chú lắm luôn.

Ngồi uống trà của chú, ngon thật, mãi sau nhạt bớt tôi xin phép tự pha, chú đồng ý liền. Ồ, ngon thật ngon, tôi pha theo cách của mình, bóc lớp hương nhẹ rồi đậm, rồi nhạt, rồi kéo dài xem độ bền mấy lượt. Rất xanh, ngọt nhẹ, sóng sánh khoang miệng, đặc trưng hương vị cổ thụ, giữa mạ non, đậu cove, cỏ lá nền nã mà đằm sâu, hướng tới cân bằng không thiên gằn mạnh, khúc khuỷu. Sự phấn khích từ người đàn ông này, sự hấp dẫn từ loại trà này tăng dần, tôi ướm hỏi đi thăm khu chế biến trà của chú. Đi liền, qua gian sinh hoạt chung lớn của gia đình dọc theo chiều dài ngôi nhà tới một khu lớn vừa, 2 cánh cửa so le tạo độ thoát gió gian phòng. Nếu không nhầm, có 4 bom quay cỡ nhỏ, quanh nền đất tráng men bóng sạch, khi sao trà bắt buộc trải bạt lên, đi dép riêng, nền nhà lau sạch hàng ngày mùa trà, hoàn toàn sao củi già. Chú và 2-3 người con trai cứ tối qua thay nhau sao trà, không tham số lượng nhiều, chỉ mua lá chè tươi từ thôn cao nhất Thượng Sơn, làm một lượng nhất định trong ngày, không diệt men mẻ cuối quá 12h đêm giữ độ tươi – sống của lá chè. Giữa rừng thế này, người đàn ông có tiếng nói lớn nhất trong gia đình, quyết đoán ẩn trong vẻ hiền hòa, sức khỏe ngang trâu mà chú từ chối mở rộng quy mô, tăng sản lượng và thu nhập dù có thừa cơ hội. Chú thật sự đáng ngưỡng mộ! Lướt nhanh không gian làm việc, mọi thứ sắp xếp gọn gàng, dễ thao tác, bộ motor cải tiến hộp số và điều chỉnh thời gian kiểm soát hiệu quả cao. Thì đây, trước mặt tôi là một người vô cùng thông minh, biết mình đang làm gì, muốn gì, dừng ở đâu. Đó là một viên ngọc sáng trên núi rừng đại ngàn Tây Côn Lĩnh.

Suốt một năm trải nghiệm loại trà xanh thú vị này, rất ngon, sâu sắc, tuy nhiên tôi vẫn thưởng thức một mình, chia sẻ cùng vài người bạn. Bởi lưỡng lự mình đã có kha khá các loại trà xanh trên kệ và phiên bản hạn chế, liệu có quá nhiều khi thêm một loại nữa không. Sau cùng tôi thấy rõ ràng trà xanh Việt Nam hay lắm, rất khác, đầy đủ cá tính đa dạng, đủ sức mạnh khẳng định giá trị riêng của mình. Càng nhiều người nước ngoài chú ý tới trà Việt Nam hơn, dám thử loại trà khó nhằn này. Tại sao không đẩy trà xanh cho tới đi, cho thành một vòng hấp dẫn mạnh mẽ. Vì thế tôi quyết định gọi tên Bamboo Dream cho Trà Xanh Thượng Sơn, Hà Giang ngay xuân 2021, không thể chần chừ hơn.

Để biết thêm thông tin hay thử Bamboo Dream click ngay:

Việt Nam: https://hatvala.vn/products/tra-xanh-bamboo-dream

Quốc tế: https://hatvala.com/green-tea/bamboo-dream-green-tea

Bộ Ảnh Đồng Bào Vùng Cao

Trên chặng đường tìm kiếm, khám phá thế giới trà Việt Nam hơn 10 năm qua, mục tiêu là đến với cây trà, lá trà. Chúng tôi nhận được một phần thưởng vô cùng quý giá theo một cách bất ngờ. Đó chính là con người! Qua bao con đường, vắt qua thác suối, gõ cửa, ăn cùng – ở cùng, tìm kiếm sự giúp đỡ, làm việc cùng người đồng bào H’Mong, Cờ Lao, Dao Đỏ, Dao Tiền, Tày, Nùng, Dáy…chạm vào và ngắm nhìn cuộc sống bà con nơi vùng cao xa xôi, rất đỗi hồn nhiên, đơn giản, hòa mình với thiên nhiên.  Không có họ, không có Hatvala với những sản phẩm tốt đẹp như ngày hôm nay. Tôi mong chia sẻ với mọi người khoảnh khắc đẹp mình từng bắt gặp, ghi lại qua những tấm hình con người nơi đây

ĐƯỜNG MÒN LÊN RỪNG TRÀ

Muốn tận mắt chứng kiến cây trà cổ thụ, là tách dần khỏi đường quốc lộ men theo đường nhỏ, rẽ vào lối nhỏ đường mòn dốc ngược lên đỉnh núi, cứ đi mãi đi mãi tới tận cùng trời mở toang ra một thế giới mới. Hết cánh cửa này mở ra một cánh cửa khác thử thách sự kiên trì và sự hứng thú của mỗi người yêu mến vẻ đẹp cây trà rừng này. Không phải lúc nào đường đi cũng dễ dàng vượt qua. Ôi những ngày mưa rả rích, đường chưa kịp khô, bùn lầy dính be bét, xe muốn đổ quỵ liên tục, cứ bãi bùn lầy lại dắt bộ, tới độ cảm thấy ngày mai không bao giờ tới. Rồi những hộc đá nhấp nhô gầy lên con đường tự tạo khắc phục tạm thời giao thông phố núi như “say no” với những chiếc xe ô tô gầm cao. Thuở ban đầu là chúng tôi thuê xe ô tô tới cận núi rồi lựa tình hình bám theo bà con đồng bào đi sâu vùng trà, nhưng sau này khi đã thông thuộc địa phương, tôi tự thuê xe máy, men sâu vào những hang cùng ngõ hẻm đầy mới lạ thú vị, chạm tới đỉnh cao cây trà, hòa cùng đời sống người dân nơi đây. Đó là những trải nghiệm ý nghĩa, tuyệt vời của tuổi thanh xuân.

TRUYỆN TRONG LỊCH SỬ: NỀN MÓNG GIỐNG TRÀ SHAN Ở ĐÔNG DƯƠNG

Dựa vào số liệu, ngày tháng, thông tin chính xác từ nguồn chính thống trong kho tài liệu lịch sử Pháp. Nội dung và tình tiết được tường thuật lại qua sự hình dung của Nguyễn Thu Ngọc

Hơn một trăm năm về trước…..

Sau nhiều cuộc thám hiểm, khám phá Nam Trung Kỳ, cao nguyên Lâm Viên (hay còn gọi cao nguyên Lang Biang, cao nguyên Đà Lạt) là nơi khó thâm nhập nhất, đồng thời cũng là nơi người Pháp đặt nhiều tham vọng nhất trong khu vực. Cuối những năm 1920, chính quyền Pháp cho xây dựng con đường nối Sài Gòn lên cao nguyên Lâm Viên. Trong khi xây dựng, họ tình cờ phát hiện một hướng đi mới xuyên qua B’Lao – nơi thời tiết mát mẻ, ôn hòa lý tưởng cho việc canh tác, chăm sóc trà hơn so với một số tỉnh ở Tây Nguyên lúc bấy giờ, nhưng mặt khác B’Lao có độ ẩm khá cao, dễ sinh ra nấm gây bệnh phồng lá. Cách khắc phục khi ấy là tăng khoảng cách giữa các khóm bụi trà có vẻ không khả quan lắm, gây lãng phí diện tích, giảm sản lượng thu hoạch.

Trạm Nghiên Cứu Nông Lâm Nghiệp Phú Thọ do người Pháp thành lập, sau một thời gian ngắn nghiên cứu phát hiện giống trà Shan có khả năng chống chịu bệnh phồng lá rất tốt.

Trong một diễn biến khác, theo một nguồn tin xác đáng Trung Quốc thời nhà Thanh có rất nhiều người Trung Quốc, vốn có kiến thức sâu về các giống chủng trà, vượt nghìn trùng xa xôi tới Lào, Miến Điện mỗi dịp đầu xuân, tìm đến những ngọn núi cao nhất, ngay tại đó đốn thân cành xuống, nhặt hái những búp non, chế biến nguyên liệu tươi, sau đó trở về nước, sàng lọc và đóng thành phẩm. Loại trà này phủ lớp lông tơ tuyệt đẹp, mơ màng, chỉ ngoại hình thôi đã hút hồn ta ngay từ cái nhìn đầu tiên, hương vị thì chao ôi, thơm đến khác lạ đầy mê đắm. Những bậc vua chúa hay nhân vật quyền lực mới có cơ hội sở hữu, thưởng thức một trong những loại trà độc nhất vô nhị này.

Vì thế, người Pháp muốn tiến sâu về giống Shan tại Lào, sau đó nhân rộng ở B’Lao, tăng cường nền công nghiệp trà trên thế giới.

Tại Trạm Nghiên Cứu Nông Lâm Nghiệp Phú Thọ

1928, Robert Pasquier người đứng đầu Trạm Nghiên Cứu Nông Lâm đi Xieng Khouang (người Việt còn gọi tên Trấn Ninh), mua về mẫu hạt giống trình lên Nha Nông Chính Thời Pháp. Họ quyết định triển khai dự án nghiên cứu ở Lào ngay lập tức. Albert Marseille – một kỹ sư nông nghiệp – được phái đi Xieng Khouang chịu trách nhiệm trực tiếp nghiên cứu, khai thác cây chè Shan cổ thụ, mở vườn giống ngay tại bản địa. Albert sẽ được tiến tới vùng đất mẹ trà Shan, nắm trong tay cơ hội lớn nhất tiếp xúc đặc tính nguyên thủy chủng trà Shan. Anh có toàn quyền quyết định, hành động, thâm nhập lãnh địa này từ phía đông dưới chân Tây Tạng tiệm cận hướng ngược lên núi cao Miến Điện giáp ranh núi cao đất Lào. Anh sẽ thu thập mẫu các loại hạt giống, cây con, vẽ bản đồ hình thành cung đường cây trà cổ thụ.

Hãy tưởng tượng, nếu như hiện tại chúng ta du ngoạn dọc cung đường rừng núi trập trùng, khúc khuỷu, chinh phục những đỉnh núi, vách núi dựng ngược đất trời, sẽ thấy bản thân mình thật mạnh mẽ, thì hơn 100 năm trước, mọi thứ chẳng hề đơn giản là vượt qua chính mình mà là sự kiên gan, dũng cảm, liều mạng, bản lĩnh vượt rừng thiêng nước độc. Các loài hoang dã hổ báo, tê giác, rắn rết rình rập phập bất thình lình, côn trùng và các mối hiểm nguy gây bệnh giăng mắc khắp nơi. Tự lần mò sâu thẳm trong rừng nhờ hướng gió, mặt trời, la bàn theo kinh nghiệm tự thân. Thần chết kề bên sát cánh nở nụ cười, nháy mắt thường trực, cần cái xuất hiện liền.

Đây là cuộc thám hiểm đầy thử thách, gian nan, hứa hẹn máu đổ cắt thịt nhưng tuyệt vời tràn đầy tham vọng kéo dài từ 1929, 1930, 1931. Albert mất 15 ngày xuất phát từ Hà Nội chèo thuyền, ngồi xuồng theo dòng sông Cả qua Nghệ An – Hà Tĩnh cưỡi ngựa, cưỡi lừa xuyên dãy Trường Sơn qua Cánh Đồng Chum (Plain of Jars) tiến sâu vào Xieng Khouang.

Hái trà tại Xieng Khouang, Lào

“ Từ nước Pháp văn minh xa dần đô thị, tôi hòa vào rừng núi Đông Dương, tôi đã yêu cảnh vật tĩnh mịch, yên lặng của rừng núi một cách nhẹ nhàng, tự nhiên. Tôi nhìn thấy vẻ quyến rũ của rừng sâu rộng lớn, khám phá một thế giới phong phú, đa dạng các loài nhiệt đới ẩn sâu qua tầng lớp tán rừng. Từ đó trân trọng những niềm vui rất đỗi giản dị, sự chào đón nồng ấm, ngọt ngào từ người dân xứ xở này, họ sống bình yên rải rác từ thung lũng tới tận núi cao với nếp sống thuận theo tự nhiên, tự cung tự cấp thức ăn, vật dụng thiết yếu. Tôi hiểu được một nền văn hóa truyền thống khác, lắng nghe những câu chuyện cổ tích mộng mơ, cảm nhận một cuộc sống tràn đầy niềm tin Phật giáo thuần khiết. Cuộc đời tôi, đã thay đổi, theo một hướng tốt đẹp hơn rất nhiều”.

Albert tìm tới được hai dãy núi lớn là Phou Sang và Phou Kobow có nhiều mẫu cây trà cao lớn tầm 15-20m, tán cây mịt mù trong tầng mây trắng phủ núi cao. Dân cư chủ yếu là người Mèo, họ kiếm tiền chủ yếu từ cây anh túc, tập trung sinh sống ở độ cao 1500m-2000m so với mực nước biển, họ sợ cái nóng nực dưới chân núi.

Với tất cả nhiệt huyết, niềm tin, nỗ lực không ngừng nghỉ, vận dụng tất cả khả năng có thể, thậm chí có lúc tưởng chừng như bị đầm lầy nuốt chửng cả người lẫn ngựa theo nỗi tuyệt vọng tột cùng. May mắn thay, anh đã thoát chết ngoạn mục vào phút chót, đáng tiếc là Albert không thể cứu con ngựa của mình. Sau đó, anh bị vắt tấn công hút máu, thân thể tiều tụy, kiệt quệ trong rừng hoang.

Để thúc đẩy tiến độ công việc, Albert liên tục gửi mẫu búp, cành, hoa về Phú Thọ. Nâng cao sự hiểu biết giống Shan, anh gửi mẫu phân tích cho một chuyên gia Hà Lan ở Java, Indonesia và đặc biệt làm mẫu trà xanh, trà đen trao đổi cho một chuyên gia hàng đầu ở London. Quá đỗi bất ngờ, người này đáp lại với một niềm xúc động mạnh rằng: ” Không thể tin có loại trà nào có thể ngon đến như vậy!”

Lệnh từ Hà Nội, không được chậm trễ, bằng mọi cách nhanh chóng lựa chọn mẫu hạt, gây giống, trồng thí nghiệm vườn giống đầu tiên, thu về các loại giống ưu việt nhất.

Albert rong ruổi lên xuống khắp 64 ngọn núi khu vực Lào, Miến Điện, thành lập vườn giống có hơn 20,000 cây giống

Đột nhiên, giữa năm 1931, anh nhận được lệnh khẩn. Rất khó hiểu, vô lý, không liên quan! Rằng ngưng toàn bộ các hoạt động nghiên cứu, phá hủy sạch vườn giống, dỡ bỏ lều trại, quay về Hà Nội gấp. Tới Hà Nội, anh rơi vào hố sâu của thất vọng, sự im lặng ám ảnh nuốt chửng lấy anh. Không một lời giải thích tại sao, sau chừng ấy thời gian, công sức, đau thương anh đã trải qua và gặt hái. Albert cứu vãn hy vọng cuối cùng bằng cách đem về một ít hạt giống gửi tới B’Lao xây dựng vườn cây nông nghiệp. Sau 4-5 năm thử nghiệm, họ đã lai tạo thành công giống trà Shan Trấn Ninh (giống Shan búp trắng B’Lao – TB 14) lý tưởng cho điều kiện thời tiết ở B’Lao.

Hái trà trên đồi B’Lao

Trong 10 năm 1931-1941, sau khi rời Xieng Khouang, Albert không làm việc trong bộ phận nghiên cứu chuyên môn, anh chuyển qua vị trí quản lý tại Nhà máy đường Tuy Hòa, Phú Yên.

Đầu 1942, lại đột nhiên Albert nhận được một đề nghị là “Trở lại … Xieng Khouang, nhận lại…công việc như năm 1931, tìm giống trà Shan”.

“Chúa ơi! Cái quái gì đang diễn ra thế này! Các người bảo tôi cưỡi ngựa thời gian chìm trong đầm lầy năm nào về lại quá khứ hay sao?”

Điều đầu tiên, Albert hỏi tại sao hơn 10 năm trước lại yêu cầu anh phá hủy mọi thứ. Câu trả lời là loại trà từ giống cây anh gửi mẫu quá xuất sắc khiến Liên minh Anh – Hà Lan quan ngại việc nghiên cứu, nhân giống trà Shan trên nền diện tích Đông Dương rộng lớn, trù phú sẽ đe dọa nghiêm trọng vị thế số một nền công nghiệp trà của họ. Đưa ra một cuộc trao đổi, Anh – Hà Lan sẽ cung cấp nguồn dầu khai thác từ Borneo, Indonesia cho Pháp trong 10 năm với mức giá đặc biệt nếu Pháp ngừng nghiên cứu nhân giống trà Shan. Với tình hình lúc đó, ngài Bộ trưởng Nông Nghiệp Pháp không còn sự lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, 10 năm sau cùng với sự phức tạp của thế chiến thứ 2, cục diện thay đổi rất nhiều, Pháp “lại” cần các loại hạt giống trà Shan.

Sản xuất trà tại B’Lao

Và Albert mỉm cười tiết lộ, anh chưa từng làm theo lệnh cấp trên, chưa từng phá hủy vườn giống Xieng Khouang năm nào.

Albert quay lại Xieng Khouang, cùng niềm hạnh phúc lớn lao. Tuy nhiên, cảnh vật cây cối um tùm mọc hoang, hầu hết các cây bị chết do môi trường tự nhiên cạnh tranh, một số ít mọc lên tiếp tục sinh trưởng, dù không quá cao.

Việc nghiên cứu, lai tạo giống trà Shan tại Xieng Khouang tạo nền móng đầu tiên cho vườn giống B’Lao tiếp tục phát triền tìm ra giống trà thích ứng thời tiết, có sức kháng sâu bệnh.

Có thể nói rằng, không có trà Shan, không có giống Shan B’Lao búp trắng nổi tiếng (TB 14), không có vị thế trà Bảo Lộc sau này.

Đến năm 1975, có 15.000 ha canh tác các loại giống trà Shan tại B’Lao.

NHẬT KÝ VÙNG TRÀ THÁNG 03/2021

Tôi gọi vài người để biết những ngày chưa vào vụ thu hoạch trà, bà con khắp nơi làm gì? Có gì thú vị không?

Ở lâu dưới nắng Sài Gòn, nhiều khi tôi quên mất ngoài Bắc tiết trời đang đón mùa xuân. Xuân trên rẻo cao vẫn lạnh lắm, đêm đêm có khi xuống 11-12C, phải đắp chăn bông quấn quanh thân mình mới ngủ được, sáng sớm mở cửa hiên nhà sương mù bay òa vào mặt, vào người chợt rung mình trước cơn lạnh bất ngờ. Ban trưa, mặt trời vươn cao dần, có hôm mây phủ, có hôm nắng vàng sưởi ấm lòng người, yêu đời rạng rỡ, hân hoan lạ kì. Mùa hái chè sắp đến rồi, đầu tháng ba, búp trà nhú dần, hấp hé ló ra từng lá  xanh non mơn mởn sau nhiều tháng ngủ đông ấp ủ tinh hoa đất trời. Chúng ta sống nơi đô thị làm việc lịch trình cố định hay ca kíp hàng ngày. Tôi chợt nhớ tới những người bạn làm trà Tây Bắc của mình, tự hỏi giờ này họ làm gì nhỉ, cuộc sống có gì vui, bận rộn không? Tôi gọi điện hỏi thăm vài người, xin chia sẻ với bạn nhé.

Mộc Châu có một xưởng trà gia đình sản xuất trà Oolong theo quy mô nhỏ, chăm chút sản phẩm kỹ lưỡng. Công nhân được phân công các hạng mục làm việc cho kịp thời gian sản xuất oolong khai xuân đầu tiên trong năm. Từ cuối tháng 2, bắt đầu bón phân hữu cơ, chăm sóc tỉa cành giúp cây khỏe mạnh, sau đó luân phiên cắt cỏ khắp cánh đồng Nhóm công nhân khác tranh thủ vệ sinh nhà xưởng, kiểm tra máy móc, bảo dưỡng vận hành trơn tru trước lúc vào mùa. Khuất dưới gần hồ nước, gần cuối cánh đồng là chuồng gà, chuồng lợn tăng gia sản xuất, phục vụ công nhân nhà xưởng ăn uống chất lượng hơn. Tiếng éc éc, quang quác lâu lâu nghe thật vui tai. Xa xa những cây đào mới nảy quả, những cây mận bung hoa trắng đan xen luống trà trải dài bất tận vẽ lên một bức tranh ảo diệu đầy mộng mơ và yên bình.

Tạm biệt Mộc Châu, Sơn La, tôi rẽ trái qua vùng chè cổ thụ Tủa Chùa, Điện Biên. Nghe bảo bà con đã đi cấy lúa, bởi nhiều vùng xứ Tây Bắc này đa phần chỉ làm một vụ lúa trong năm, đủ ăn cho một gia đình. Có nơi núi đá cọc cằn, không đủ đất mềm gieo cấy, người dân chỉ trồng ngô xen kẽ rau quả và dĩ nhiên họ sẽ ăn “mèn mén” là ngô xay nhuyễn thay cơm trắng. Thú thực, tôi đã thử món này, lúc ăn âm thanh đũa gõ vào thành bát liên hồi hết từ người này đến người khác để rũ sạch bột ngô bám đũa trước gắp thức ăn gâyấn tượng nhất, lấy đũa xúc là nó rơi xuống tả tơi, vị lạ lạ khó hiểu, dù cố gắng nhưng tôi thấy ăn cơm trắng quả dễ dàng hơn “mèn mén” rất nhiều.

Từ Điện Biên hướng đi Lào Cai gặp Mường Khương, đây là vùng nguyên liệu trà Purple Rain tuyệt vời của tôi, cũng là vùng đất tốn công sức rất nhiều qua hết drama này gặp drama khác, bao lần con tim muốn rụng rơi theo chú H’Mong hồn nhiên, đáng yêu. Và mỗi cuộc gọi cho chú cũng lên xuống như thường:

      • Alo, alo, alo, nghe được không chú?
      • Nghe được, Ngọc à?
      • Chú đang làm gì đấy? Sao ồn thế?
      • Đang đi chợ Ngọc ơi
      • Đi chợ làm gì chú? Sao tối qua gọi không được chú?
      • Uhm, tối qua ngủ sớm, uống rượu đấy
      • Suốt ngày rượu,uống lắm thế
      • Không lắm đâu, uống bình thường mà.

Là thế đó, chú kể tôi nhịp sống mới đây, cả nhà chú với sự giúp đỡ nhiệt tình của con cháu, hàng xóm láng giềng cũng đã hoàn thành việc tra ngô. Vùng cao nơi đây, bà con vẫn làm thủ công nhiều lắm, tới vụ thu hoạch sức người của một gia đình làm không xuể, cần lắm sự trợ giúp của mọi người xung quanh. Cứ như vậy, họ lần lượt làm nhà này tới nhà kia phụ nhau vui vẻ. Đây cũng là một nguyên nhân tại sao người đồng bào sống trong cộng đồng rất chan hòa, tương trợ lẫn nhau, vô cùng hiếm hoi xảy ra mâu thuẫn, họ sống thật thà, trung thực trên nền tảng lợi ích chung lâu dài. Tôi học mãi đức tính chan hòa của người đồng bào mà thấy vẫn khó, chẳng dễ tẹo nào. À tiếp tục, sau khi tra ngô, nhà chú sẽ trồng sắn (hay còn gọi khoai mì trong Nam), lúa thì từ từ qua tháng tính tiếp. Riêng chú được biệt phái đi chăn 4 con trâu lên rừng, len xuống ven núi chân thủy điện tìm những luống cỏ ngon nhất vỗ đầy cái bụng.

Ngay ở Lao Cai, tôi liên hệ tiếp với mấy đồng chí Dao đỏ ở đất Y Tí cao ngút mù trời. Sao đã thấy có tiếng chén anh chén em cành cạch hấp dẫn thế nhỉ? Hóa ra là 4 người đàn ông từ 20-61 tuổi đang quay quẩn bên bếp lửa tâm sự nhẹ cuộc sống. Tôi hỏi:

      • Sao uống rượu sớm thế anh?
      • 11h rồi, trưa rồi.
      • Uống rượu với món gì anh ơi?
      • Hôm qua thằng Lở đi lên rừng bắt được 2 con chim, thế là mấy anh em chú cháu nướng chim, uống rượu thôi.
      • Anh không đi làm gì hả?
      • Chưa có gì đâu, ngồi chơi thôi. Mấy hôm nữa mới đi cấy

Tôi vặn vẹo:

      • Sao không làm gì mà giàu thế?
      • Cũng không biết được nữa, thì cứ làm thôi

Ôi, giá mà giờ tôi có mặt ở Y Tí, cạch cạch với các anh thì lâng lâng biết mấy. Nói vui vậy, sau cuộc nhậu, tôi có bàn với mấy anh em một kế hoạch lơn lớn về vụ trà năm nay. Hồi hộp lắm nên cần chuẩn bị chút chút, tới ngày đẹp, trà đủ lớn là làm liền. Bạn đợi nha.

Gác lại hơi men Lào Cai, hướng tới Lũng Phìn, Hà Giang xem chị gái H’Mong trắng của tôi đang làm gì? Chị kể chị mới tra ngô, trồng xen kẽ đậu xị, rau cải. Tất thảy là 2ha. Ui trời, 2ha tưởng rộng nhưng đất Lũng Phìn thuộc cao nguyên Đồng Văn chằng chịt đá tai mèo khắp nơi, lâu lắm mới có chút chút đất mềm ngô mọc được, sản lượng thu hoạch cũng không đáng là bao. Ngày ngày người phụ nữ này đi cắt cỏ cho bò ăn, nấu cám cho đàn lợn, thảy ngô cho gà vịt. Và việc rất quan trọng là nhổ cỏ quanh những gốc cây chè cho xuân tới chè đơm lá khỏe hơn. Toàn đất đá, cây chè thân trắng nhìn khô khốc như những chiến binh quả cảm hút sâu chút nước hiếm hoi và khoáng chất trong đá tai mèo vươn lên sống mãnh liệt. Sẽ không thấy lá xanh phủ kín cây như nhiều vùng trà khác, là thân cây gầy guộc ôm lấy lá nhỏ xinh. Bởi vậy, chị gái H’Mong chắt chiu từng chiếc lá, búp non, chị thương cây chè, chị chăm chút, chị nhìn cây chè nở nụ cười trên môi, mang những hy vọng dung dị chắp cánh xa xôi.

Chúng tôi, mỗi người một phương, chung một vài chí hướng, đang chuẩn bị cho mùa trà xuân này, với mong mỏi thời tiết thuận hòa, mọi sự ổn định, đừng biến động, để bà con hái lá chè, bán lá tươi, làm trà, tạo nên thành phẩm ngon hơn, ấm hơn.

TIÊU CHÍ TÌM KIẾM MỘT LOẠI TRÀ

Bản sắc trà mỗi quốc gia, vùng miền đa dạng, muôn màu muôn vẻ. Đi tới đâu cũng khao khát tìm được món trà thú vị như kết thêm một người bạn. Có nơi hoang vu đồng không hiu quạnh hoang mang vô định, không biết bắt đầu từ đâu với ai, rò rẫm phương nào. Có nơi quá nhiều trà ngon vật lạ khổ không kém, nhiều nhưng sàn sàn như nhau, choáng ngợp, từ từ ngồi thở nghĩ xem đi từ hướng nào. Sau cùng luôn là những câu chuyện thú vị cả một chặng đường bền bỉ không mệt mỏi kiếm tìm.

Rong ruổi suốt những cung đường núi non từ Bắc vào Nam, trong ra nước ngoài, chưa bao giờ tôi hết ngạc nhiên trước vẻ đẹp cây chè trong quần thể sinh thái đa dạng tuyệt vời, cuốn theo sức hút kỳ lạ của hương vị khi rõ ràng khi lẩn khuất mỗi lúc một khác. Rung động ban đầu đem đến động lực mạnh mẽ thôi thúc tôi làm một điều gì đó ý nghĩa, tuyển chọn, xây dựng bộ sưu tập trà chất lượng cao, hàm chứa giá trị vững chắc đặc biệt mang màu sắc và quan điểm của riêng tôi. Từ đó cộng hưởng cùng danh trà khắp mọi miền đất nước chạm lên thương hiệu trên bản đồ trà thế giới. Tôi sẽ chia sẻ một chút về tiêu chí tìm kiếm ra 1 sản phẩm như thế nào  trong bạt ngàn các loại trà giữa mê cung trận địa, ngó đâu cũng thấy trà này trà kia vẫy gọi lôi kéo.

Trà thuộc nhóm đồ uống, ấn tượng đầu tiên chính là hương vị. Tôi kỳ vọng lớp lang hương – vị sắc nét như tự tính nó thuộc về. Dù phong phú như thế nào, trà Trắng nên là trà Trắng, trà Xanh nên là trà Xanh, cứ hài hòa, uyển chuyển nhưng đừng lẫn lộn. Trong Phổ Nhĩ sống có vương vấn trà Xanh phơi nắng nhẹ, trong trà Đen lại ngọt ngọt, nước vàng vàng lợt lợt, những gu hương vị này không sai, chỉ là quá trung tính, đan xen, với tôi là như vậy. Nhấp miếng trà, cảm giác làn nước chạm nhẹ vào lưỡi, dẫn tỏa ra khoang miệng xuôi xuống dễ chịu dưới cuống họng, đọng ở đấy, ngọt nhẹ. Thậm chí, một số trà xanh hay phổ nhĩ sống cổ thụ giàu nội chất mạnh mẽ có thể “tấn công” “thọc sâu” trong khoang miệng khiến chúng ta bàng hoàng, bất ngờ. Khi đã có nền tảng hương vị tốt, điều kiện đủ sẽ là độ bền tiếp nối lượt trà về sau, duy trì ổn định cảm giác nhấp mãi nhấp mãi sao nước vẫn đẹp, hương vẫn thơm, vị vẫn đằm sau 5-7 ấm, từ từ giảm dần về với cội nguồn thanh ngọt tự nhiên.

Một phần thưởng thú vị của vụ mùa, sâu bệnh, thổ nhưỡng khắc nghiệt, bàn tay ma thuật giúp trà có tầng lớp hương vị biến đổi phức tạp, phát triển từ nền này qua nền khắc sau mỗi lượt pha biến ảo sinh động như khu rừng nhiệt đới. Không có nhiều trà có được sự may mắn này nên cảm giác đợi chờ, ngóng trông sẽ rất tuyệt vời.

Sẽ không thể bỏ qua yếu tố con người.  Từ một nguyên liệu trà, có người làm rất dụng công mà chẳng tới đâu, có người làm kiếm kế sinh nhai, có người chẳng biết vì sao mình làm ngon nữa. Nghe như đùa thế mà lại đúng nếu như các bạn lên vùng cao heo hút gặp bà con đồng bào với đầy đủ kĩ năng sống, khéo léo chỉ là họ không có điều kiện so sánh, cọ sát nhận biết mình đang ở đâu! Thử mẫu trà tốt là một chuyện, tôi rất chú ý đến người làm trà có tính cách như thế nào. Tôi muốn tìm ra người có trách nhiệm, trung thực, khiến tôi tin tưởng, sẵn sàng chia sẻ, cởi mở để có thể hợp tác lâu dài, bền vững. Vùng trà phát triển thì tiến lên tìm tìm tìm, chứ đôi khi tới một chân trời xa lạ không ai sao trà sấy trà trong làng, săn lùng một anh trai hay một chú trung niên, chúng tôi như những kẻ ngáo ngơ nhìn nhau không biết bắt đầu từ đâu, để làm ra một loại trà ưng ý, cần tới vài năm đạt mục tiêu, chỉ nghĩ đã rùng mình rồi. Thật may mắn, tôi và rất nhiều người làm trà trở thành những người bạn tốt hàn huyên kể chuyện trà, trao đổi học hỏi hàng giờ hàng ngày, mặt đối mặt, qua điện thoại mãi không biết chán. Chia sẻ góc nhìn đối lập giúp chúng tôi tự học hỏi, cải thiện phần công việc của chính mình.

Trà ngon đây rồi, bền có, vậy thôi người ta uống đấy, thích đấy rồi cũng có thể quên. Về văn hóa, kinh nghiệm sản xuất , Trung Hoa đi trước chúng ta hàng trăm năm, Ấn Độ hay Nhật Bản vượt trội về sản xuất công nghệ cao. Chúng ta có gì để nói lên sự khác biệt, để người  uống trà nhớ đến mình sâu sắc, đi đâu cũng da diết nét trà đó, phải quay lại tìm lại món ấy. Tôi không đánh giá cao việc sản xuất trà Long Tỉnh, Bạch Hào Ngân Châm phiên bản Việt, hay như sao trà cổ thụ thật giống như trà Thái Nguyên quen thuộc số đông, làm một thứ mục tiêu là đặc biệt nhưng dập khuôn, na ná cái người ta làm đã quá tốt, thà không làm còn hơn. Tất nhiên quá nâng cao quan điểm, cố tìm cái gì đó khác biệt trong một mớ mờ nhạt dễ dẫn lạc lối về vạch xuất phát. Đây là một trong số ít tiêu chí khó nhất yêu cầu thời gian, công sức, sáng tạo, định hướng. Ngay ban đầu, tôi thấy trà xanh Việt Nam là một điểm sáng khác lạ so với trà xanh ở quốc gia khác. Đại đa số người Việt uống trà xanh, khắp nơi sản xuất trà xanh tạo nên sự phong phú, đa dạng từ tỉnh này tới tỉnh khác, từ trung du tới rừng già đại ngàn. Ngay trong tỉnh Hà Giang phân hóa 3 vùng trà lớn với 2 đặc điểm địa hình khác nhau rõ ràng, 2 điểm núi cao chọc thủng trời xanh lạnh buốt quanh năm, nếu khai thác – phát triển hương vị riêng mỗi vùng thì ắt hẳn tạo nên vị thế vững chắc. Nội lực trà xanh mạnh mẽ, độ sâu từ vùng nguyên liệu trù phú, không ngoa khi nói Việt Nam chính là thiên đường của trà xanh, tìm gì cũng có.

Bước qua sự hài lòng ban đầu, điểm mấu chốt tiếp theo là độ sạch và sự tự nhiên. Tôi không theo đuổi chứng chỉ organic khô cứng đảm bảo sạch trên lý thuyết nhưng không thể là thước đo chất lượng hay hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm ấy. Phần lớn trà tôi hướng đến xuất phát từ núi cao xa xôi, cây chè mọc hoang xen kẽ trong rừng, bà con sống hòa hợp với thiên nhiên, thu hoạch theo mùa, không sử dụng phân bón, tưới tiêu. Trung du, cao nguyên, tôi hợp tác với những người có chung quan điểm sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường, dưỡng đất chăm cây dựa trên phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thưc vật sinh học, thời gian cách ly an toàn. Bên cạnh đó xét nghiệm ngẫu nhiên các mẫu trà theo tiêu chuẩn EU (tiêu chuẩn khắt khe nhất trên thế giới) kiểm định dư lượng hóa học trên phân bón, thuốc trừ sâu. Gần đây, các nước phát triển đưa ra yêu cầu gắt gao chỉ số kim loại nặng gồm nhôm, asen, chì, cadimi, thủy ngân. Những xét nghiệm này giúp tôi xác minh trà của mình có nằm trong ranh giới an toàn nhất hay không. Về sự tự nhiên của trà là gì? Ngoại trừ trà hương ướp hoa, gia vị, hoa quả sấy, thảo mộc, còn lại các loại trà “mộc” phải hoàn toàn chỉ là lá trà nguyên thủy không ướp hương liệu nhẹ giả hương cho trà, bỏ chất phụ gia trong quá trình chế biến thành phẩm. Đặc biệt tưới tẩm một số hoạt chất lên lá cây trước khi thu hoạch một vài ngày, chất này ngấm vào lá tạo nên sức hấp dẫn nhất định đa phần mọi người rất khó nhận ra. Chỉ có kinh nghiệm tôi luyện lâu năm mới có khả năng phán đoán hay xét nghiệm hóa học giải mã các con số cụ thể chỉ ra rõ ràng.

Trong bộ sưu tập trà của mình, sự khác biệt giữa các khuôn mặt trà là rất quan trọng. Để khi người uống thử loại trà này không thấy giống loại trà trước, mặc dù chúng thuộc cùng một nhóm trà. Sự trùng lặp dẫm vị lên nhau nhiều khi chỉ tốn thời gian cho người thưởng thức mà thôi. Đồng thời, người yêu trà ngon gồm nhiều đối tượng khác nhau từ quốc gia, độ tuổi, giới tính, vì thế tôi cố gắng tìm đủ loại đa dạng để mỗi người có cho mình một vài loại yêu thích, nhiều khi rất đối lập.

Các tiêu chí đưa ra như mệnh đề cần và đủ, định mức cho một loại trà lý tưởng. Những tiêu chí siêu khó như sự đa dạng lớp hương, cá tính sắc nét độc đáo đòi hỏi rất nhiều yếu tố nền căn bản khác. Theo thời gian, tôi nỗ lực và hy vong ngày càng nhiều loại trà “lý tưởng” của mình ra đời để mình cùng “chill”

TRÀ THỰC SỰ TỐT CHO SỨC KHỎE?

Khá nhiều bạn bè hay người quan tâm tới trà thắc mắc hỏi tôi “ Uống trà rất tốt cho sức khỏe phải không?” hay “ Trà gì tốt nhất cho sức khỏe?”. Tưởng chừng dễ dàng bật ra “ Có”, thế mà “có” đôi lúc lại như “không”. Chúng ta hãy tìm hiểu một số góc độ khác trước khi sử dụng trà như thể nào nhé.

Qua truyền thông, quá nhiều thông tin hướng dẫn sử dụng một sản phẩm bất kỳ có lợi cho bộ phận cơ thể hay hoạt động trí não, tinh thần. Việc đưa thông tin như vậy có thể đúng, tuy nhiên theo hướng một chiều dễ gây nhiễu loạn cho người đọc, phản ứng ngược khi tiếp nhận. Nội dung giới thiệu thu gọn trong vài dòng sơ sài hay một bài đăng ngắn trên báo đài thật khó truyền tải những nội dung cần thiết.

Ở đây tôi sẽ không bàn về tác dụng của trà đối với sức khỏe mà muốn đề cập tới yếu tố quyết định trước đó là phẩm chất trà như thế nào mới tốt đây. Xin nhấn mạnh trà không phải một loại tiên dược quý giá ngăn ngừa nhiều bệnh tật như nhiều lời quảng cáo. Bạn không thể thả ga nào gà rán, fast food, công nghiệp rồi kỳ vọng vài tách trà vi diệu mỗi ngày sẽ giúp ta chống lại cả thể giới được đâu. Trà trước tiên là một thức uống dễ chịu, sảng khoái, cuốn hút, đa diện, hài hòa với chế độ dinh dưỡng khoa học giúp ta cân bằng cơ thể khỏe mạnh. Hơn nữa, bởi tính chất đặc trưng trà vốn tĩnh, dịu nên mọi người lựa chọn uống trà song song với nói chuyện chìm vào những giây phút yên lặng, nhịp nhàng. Từng thao tác chuẩn bị, pha trà, thưởng thức, tinh thần như lắng đọng thiền tịnh tạo nên hiệu ứng tích cực đối với sức khỏe.

Trà có rất nhiều hình thái, phân cấp:

Nếu chúng ta tùy tiện chọn một số loại trà túi lọc phổ thông, vụn vỡ, cắt nhỏ, cấu trúc phân tử bị phá vỡ, phân rã nhanh chóng giảm chất lượng rất nhiều. Chưa kể tới thành phần hóa học của phần lớn túi lọc là sợi nilon không tốt cho sức khỏe và môi trường sống. Trà nguyên lá sẽ là một sự cân nhắc tốt hơn cho hương và vị một cách thuần túy.

Có bao giờ bạn hỏi trà mình uống đến từ đâu, ai làm? Vâng điều này khá quan trọng đấy. Mô hình đại trà nói chung chú trọng sản lượng, sử dụng thiếu kiểm soát lượng tồn dư hóa học trong sử dụng phân bón, kích thích, thuốc bảo vệ thực vật… Uống trà ngậm dư lượng hóa học cao, chẳng ai chết trong 1-2 ngày, chỉ là sau 10-20-30 năm tích tụ độc tố, cơ thể bắt đầu bộc lộ bệnh tật. Việc xác định nguồn gốc xuất xứ không đảm bảo trà của bạn an toàn, đáng tin cậy, song kết hợp với vài yếu tố khác giúp bạn có định hướng rõ ràng hơn về cái bạn đang uống hay dở thế nào.

Trà đã sạch và tạm thời an toàn rồi. Đủ chưa nhỉ? Tôi cho rằng khá đủ. Hiện nay một số nước phát triển họ ưu tiên nhập trà Nhật, chưa cần biết tới cá tính ra sao, nguyên do người Nhật gây dựng thương hiệu uy tín suốt hàng chục năm qua trên thị trường không riêng gì trà. Người uống mỗi người một nhịp sống, điều kiện khác nhau nên họ cần sự an toàn trước tiên, chúng ta không thể chỉ trích hay phán xét quyền riêng một ai. Còn nếu muốn đào sâu, tìm kiếm sự đặc biệt hãy lưu ý xem ai hay đơn vị nào sản xuất? Vùng nguyên liệu tốt nhưng 2 nhà làm cùng bản có thể đưa ra 2 chất lượng không đồng đều. Thích trà loại nào, do ai, đơn vị nào làm là gu riêng của từng người thưởng thức tự phát triển theo thời gian.

Và cuối, tôi nói rằng Trà thực sự tốt cho sức khỏe và tinh thần, chỉ là trà như thế nào mà thôi.

KHÚC BIẾN TẤU HƯƠNG NHÀI

Ướp hương nhài (lài) thấm đượm cánh trà dường như quá đỗi thân thuộc với chúng ta. Hầu hết xưa nay ở Việt Nam mọi người thường ướp hoa nhài với trà xanh vốn dĩ gắn liền trong đời sống người dân suốt nhiều năm tháng. Ngày nay, chúng ta hòa nhập và hoán đổi chủng loại trà cùng thế giới năm châu, có người thích trà này, có người thích trà kia. Tôi tò mò không biết nhài ướp “trà xanh – trà oolong – trà đen” giống và khác nhau như thế nào?

Mục tiêu hướng đến là “ trà ngậm nhẹ hương” tức hương đã ăn vào cánh trà, tỏa ra mùi hương thấp thoáng, không xộc mạnh vào mũi, dễ chịu khi thưởng thức từ những lượt trà đầu tiên, lượt về sau vẫn lưu giữ hương lưu luyến, vị trà có sắc thái riêng để thấy rõ hai chất liệu nổi bật đánh giá bất cứ loại trà nào.

Jasmine-3Tôi chọn giống nhài ta, không lai phối, bông nhỏ, trắng sứ tinh khôi, hương thanh, bền, trồng tại ven hồ Tây, Hà Nội. Mùa nhài ngoài Bắc kéo dài từ đầu tháng 4 tới gần cuối tháng 9.

Vốn đã ướp trà xanh từ lâu, mỗi cá nhân ướp trà lâu năm đều có một cảm nhận riêng về nồng độ (độ thơm) mùi hương khác nhau. Khi ướp trà chạm ngưỡng này tức khắc nhận ra ngay, không ướp hơn hay kém quá nhiều, tất nhiên sự thử nghiệm mới mẻ luôn ẩn chứa bất ngờ không thể dự đoán được. Hãy trải nghiệm ngay kết quả cùng tôi nhé:

Hương Vị: Trà Xanh –> Trà Oolong –>Trà Đen

Pha trà hương, tôi lấy một lượng trà vừa phải tránh gắt, tỉ lệ: 4gr/250ml nước. Nhiệt độ khoảng 85C-90C phù hợp mỗi loại.

Trà Xanh: nền trà cổ thụ Hà Giang. Hương vị ở mức độ cao nhất, cán cân có nghiêng một chút về vị hơn so với hương. Hương loảng thoảng, biên độ lan tỏa rộng miên man cảm giác như làn khói bay quanh khuôn mặt bán kính 30cm. Vị trà còn giữ lại tanin chát vừa, mềm dần chuyển sang ngọt về cuối, hậu ngọt rõ rệt từng lượt trà. Tổng 5 lần pha còn giữ hương. Tôi gọi đây là màu cá tính.

Trà Oolong: nền trà oolong viên xanh, oxi hóa tầm 30%, chát nhẹ, từ Sơn La. Một sự hòa quyện đến vừa vặn, luyến láy với nhau giữa hương và vị. Tông hương không có sự lan rộng, cảm giác “ngát” len lỏi sâu qua mũi vào gần khoang miệng, song rất tinh tế không nồng rực, khó chịu. Vị trà ngọt ngào ngây nhẹ, vị chát rất rất nhẹ chỉ ra ở lượt pha thứ 2 – 3 rồi biến mất ở nước 4, còn lại vị ngọt tự nhiên vốn có. Hậu hơi ngọt, nhẹ hơn so với trà xanh. Tổng lượt pha từ 4-5 lần. Tôi gọi đây là màu lãng mạn.

Trà Đen: nền trà đen cổ thụ Yên Bái. Hương vị có nồng độ thấp nhất so với hai loại trà trên. Nổi bật nhất là vị ngọt mềm mại, sắc nét trải dài, không  xuất hiện một chút chát nào của trà vùng cao còn sót lại. Hương rất thanh, phải nhẫn nại, phải tìm mới cảm được hương trà, nhất là khi mới nhấp môi thử, một chút hương bay nhẹ dễ chịu từ chén trà lên mũi, nhiều hơn là chút hương từ nước trà ngậm trong miệng qua họng thông lên mũi trên. Hương trà kém bền hơn, chỉ pha 3 lượt là hầu như bay mất. Tôi gọi đây màu nhẹ bấc.

Jasmine-2

Qua ba lượt trà đọng lại là cảm nhận quá đỗi ngạc nhiên đầy thú vị. Không thể tin được ba mùi hương này đều đến từ một loài hoa. Nó đem tới ba chất hương rất khác nhau: đậm – nhạt; sâu – nhẹ; lan rộng – trực diện; ngắn – dài mặc dù rất nhài, đồng thời biến đổi vị trà mềm dần đi, đầy ngọt ngào và dịu dàng.

Hãy điểm sơ qua số lượng và thời gian ngấm hương trà để thấy rõ hơn cấu tạo hương vị mỗi loại:

Sản lượng hoa: Trà Xanh –> Trà Oolong –> Trà Đen

Trà Xanh: cần 0.7kg hoa/1kg trà, ướp 2 lượt, hương hút mạnh, nhanh , cảm nhận độ ẩm của trà thay đổi theo từng giờ.

Oolong: 1.6kg hoa/1kg trà, ướp dày 2 lượt. Lá trà dày, cứng, viên trà từ từ nở ra, hút hương chậm rãi, độ ẩm biến đổi thấp.

Trà Đen: cần 4kg hoa/1kg trà, ướp dày 3 lượt, cảm quan lá trà ban đầu không khó ướp, cánh lớn, nhưng khi ướp gần như chơi trò boxing ép đối phương phải hút hương từ hoa, bởi tỉ lệ phủ bông trên hoa chênh lệch quá lớn, thân mình trà trơ ra như gỗ đá không chịu bám hương nhài. Nếu không cẩn thận tham lấy hương rất dễ bị ủng trà tạo nên mùi hơi ôi khi pha.Jasmine-1

Như vậy có thể thấy “Sản lượng hoa – Hương vị” ướp trên nền 3 loại trà tỉ lệ nghịch với nhau. Trà xanh hầu như không có oxi hóa, oolong độ oxi hóa thường dao động từ 20 – 70%, trà đen là oxi hóa toàn phần.  Độ oxi càng cao, trà càng khó hút mùi do quá trình oxi hóa thay đổi cấu trúc hóa học của lá trà hình thành lên các hợp chất hydrocarbon no, các hợp chất này càng nhiều ( theo chiều tăng oxi hóa) càng khó liên kết với hợp chất hữu cơ polyphenol trong hương hoa. Thế mới thấy trà xanh chỉ để hờ hờ đã thắm, trà đen hun ngào ngạt vẫn cứ hững hờ.

Ướp trà, chọn trà, chọn hoa, cách ướp, thưởng thức. Tuyệt quá phải không bạn!

CUỘC HÀNH TRÌNH LÊN CAO BỒ, HÀ GIANG

Những thước hình chia sẻ một trong những trải nghiệm tìm kiếm cây trà cổ thụ đầy khó khăn và vô số bất ngờ qua thác lũ, sình lầy của Hatvala vào mùa xuân năm 2013.

Giữa tháng 4, Hà Giang sau những ngày mưa gió dầm dề, đường chính trở nên tê liệt, xe ô tô của chúng tôi không thể vượt qua những đoạn đường quanh co đổ đá hộc nhấp nhổm lên bản cao. Ngày hôm sau, tôi đã tìm thay đổi phương tiện di chuyển bằng chiếc xe Honda nhỏ nhắn đi theo đường mòn ven rừng tiến lên Cao Bồ. Không còn định nghĩa thời gian hay khoảng cách, cứ đi mãi đi nữa, , bởi hỏi người dân ai cũng nói sắp đến rồi, không xa đâu. Xuyên qua nào suối, nào thác gập gềnh có lúc tưởng như phải dừng chân, lá cây rừng cứa vào mặt vào tay rớm máu. Thật may mắn, sau 4 tiếng đồng hồ chúng tôi đã vượt qua 13km đường rừng lên tới trung tâm xã, tưởng chừng như đã vượt qua mọi khó khăn. Ai dè muốn xem cây chè, người ta làm chè thì còn phải vượt qua 1 quãng đường cực khó nữa. Tôi tiếp tục lân la bắt chuyện tìm 1 người dân trong làng có tay lái cừ khôi, thồ tôi tiếp chặng đường cuối.

Up and down, xóc và xóc ở mật độ cao liên tiếp. Một bên là đường đèo rộng 1m, một bên là vực thẳm. Lao xuống là xong. Thật mạnh mẽ và phi thường ! Ngồi sau xe một anh chàng Dao hay H’Mong ngốn dốc lên trời là 1 trong những trải nghiệm nguy hiểm, ấn tượng nhất tôi luôn muốn làm trong cuộc đời mình.

Vào tới nhà người bà con, chúng tôi tìm tới những gia đình đang hái chè sao chè, hỏi han chuyện trò, nhấp miệng từng ngụm trà vừa mới làm xong.

Một hành trình tuyệt vời !